Không chỉ lấy củ, loại cây này còn mang lại giá trị kinh tế cao khi từ gốc đến ngọn đều được săn đón. Hãy cùng Viet Eternity Logistics tìm hiểu loại mặt hàng này ở dưới đây.

Nông sản là một trong những thế mạnh của Việt Nam trên thị trường quốc tế khi nhiều mặt hàng đã đưa nước ta lên vị trí hàng đầu về xuất khẩu như gạo, hạt tiêu, cà phê, gia vị,… đáng chú ý nước ta còn sở hữu một loại củ tỷ đô dưới lòng đất là sắn.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam trong tháng 10/2024 đã đạt hơn 176 nghìn tấn với trị giá hơn 76 triệu USD, tăng mạnh 45,7% về lượng và tăng 34% về trị giá so với tháng 9.
Riêng mặt hàng sắn đã chứng kiến sản lượng xuất khẩu tăng mạnh đến 239% về lượng và 208% về trị giá, tương ứng hơn 24 nghìn tấn và đạt giá trị hơn 6 triệu USD trong tháng 10.
Lũy kế trong 10 tháng 2024 mặt hàng này đã cán mốc hơn 2,09 triệu tấn, trị giá hơn 955 triệu USD, giảm 12,7% về lượng và giảm 7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023.

Xét về thị trường, Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu nhiều sắn nhất từ Việt Nam với hơn 1,93 triệu tấn, trị giá hơn 873 triệu USD, giảm 11,6% về lượng và giảm 6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá tăng 6% so với cùng kỳ, đạt bình quân 452 USD/tấn.
Các doanh nghiệp xuất khẩu cho biết tinh bột sắn Việt Nam rất được ưa chuộng tại Trung Quốc, nhất là trong dịp chế biến bánh kẹo mùa Trung Thu và các lễ hội cuối năm. Tuy nhiên, cạnh tranh vẫn khốc liệt với các đối thủ giá rẻ và bột ngô cũng đang thay thế một phần tinh bột sắn. Ngoài Việt Nam, Thái Lan thì Trung Quốc còn tăng mua từ Lào, Campuchia và Brazil, trong khi giảm nhập từ Indonesia.
Đứng thứ 2 là thị trường Đài Loan với hơn 40 nghìn tấn, trị giá hơn 22 triệu USD, tăng 2,5% về lượng và tăng 8% về trị giá. Giá nhập khẩu bình quân đạt 542 USD/tấn, tăng 6%.
Hàn Quốc là thị trường lớn thứ 3 với hơn 37 nghìn tấn, trị giá hơn 11,8 triệu USD, giảm 61% về lượng và giảm 66% về trị giá. Giá bình quân 316 USD/tấn, giảm 14%.
Cây sắn có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức ăn gia súc và lương thực thực phẩm. Củ sắn dùng để ăn tươi, làm thức ăn gia súc, chế biến sắn lát khô, bột sắn nghiền, tinh bột sắn, tinh bột sắn biến tính, các sản phẩm từ tinh bột sắn. Thân cây sắn làm nguyên liệu sản xuất xenlulozơ, trồng nấm, làm củi. Lá sắn có nhiều dinh dưỡng và axit amin nên có thể làm thức ăn cho con người, gia súc, nuôi tằm,…

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện cả nước có khoảng trên 140 nhà máy chế biến tinh bột sắn, với tổng công suất thiết kế 13,4 triệu tấn củ tươi/năm, tổng công suất thực tế 9,3 triệu tấn/năm. Hiện Việt Nam là nước xuất khẩu sắn đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan, trong 5 năm gần đây đều đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD.
Nước ta có khoảng 530.000 ha sắn, sản lượng hơn 10 triệu tấn một năm. Tuy nhiên lượng sắn lát trữ kho của doanh nghiệp vụ 2023-2024 rất thấp, ước tính chỉ bằng 60% sản lượng trữ kho của vụ 2022-2023.
Xuất khẩu tinh bột sắn tuy tăng mạnh trong 10 tháng nhưng trong những tháng vừa qua, nhu cầu nhập khẩu tinh bột sắn của Trung Quốc đã giảm mạnh, đang tác động tới giá sắn Việt Nam. Giá tinh bột sắn chào bán về các cảng chính của Trung Quốc đều ở mức thấp, khiến cho giá tinh bột sắn Việt Nam đang giảm xuống.
Cụ thể, trong những ngày đầu tháng 11/2024, giá tinh bột sắn xuất khẩu được các nhà máy Việt Nam chào bán ở mức 460-480 USD/tấn (FOB) tại cảng TP. Hồ Chí Minh, giảm 20 USD/tấn so với đầu tháng 10. Giá tinh bột sắn xuất khẩu qua các cửa khẩu Lạng Sơn và Móng Cái cũng dao động ở mức 3.400-3.520 CNY/tấn, giảm 1.000 CNY/tấn.
Để trợ lực ngành sắn, năm 2024, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Mục tiêu đến năm 2030 tiếp tục phát triển bền vững, sản lượng sắn tươi cả nước đạt khoảng 11,5 – 12,5 triệu tấn; trong đó, sản lượng sắn tươi dùng để chế biến sâu một số sản phẩm (tinh bột, etanol, mì chính…) chiếm khoảng 85%; diện tích trồng sắn sử dụng giống đúng tiêu chuẩn chất lượng đạt 40-50%; phân bố tại 5 vùng trọng điểm gồm: Trung du miền núi phía Bắc; Bắc Trung Bộ; Duyên hải Nam Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ. Đồng thời, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp chế biến bánh kẹo, nha đường gluco, mì ăn liền, thức ăn chăn nuôi… sử dụng sắn và tinh bột sắn làm nguyên liệu. Ưu tiên sử dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến trong chế biến sắn để nâng cao chất lượng, sử dụng tối đa sản phẩm phụ, bảo vệ môi trường.
Dựa vào số liệu nhiều năm gần đây có thể nhận thấy xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc ẩn chứa nhiều rủi ro và đã có nhiều bài học. Trong hoàn cảnh, giá nhiều loại lương thực ở châu Âu đang tăng cao, đặc biệt là lúa mì, các doanh nghiệp Việt Nam cần chớp thời cơ để mở cửa thị trường cho sản phẩm sắn tại EU. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tận dụng các FTA để tiếp cận nhiều thị trường đông dân và có sức tiêu thụ tốt khác như Nhật Bản, Indonesia, Trung Đông và châu Phi. Cùng với đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy hình thành chuỗi liên kết, nhân rộng và hoàn thiện hệ thống nhân giống sắn, xây dựng chi tiết quy trình kỹ thuật sản xuất bền vững, theo dõi và bám sát các thị trường để cân đối các nguồn lực,…
(Theo Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), tinh bột sắn là sản phẩm được cấp hạn ngạch miễn thuế quan đứng thứ hai sau lúa gạo. Trong khi đó, thuế xuất khẩu tinh bột sắn ngoài hạn ngạch là 166 EUR/tấn; sắn củ tươi, sắn đông lạnh cắt lát hoặc không ngoài hạn ngạch tính thuế là 9,5 EUR/kg.)

